Diễn Đàn Phật Giáo

Go Back   Diễn Đàn Phật Giáo VĂN HÓA NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO GIAO LƯU KẾT BẠN BỐN PHƯƠNG Trao Đổi Kinh Nghiệm Tu Tập

Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời  
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 28-06-2009, 06:46 PM
hahaothien's Avatar
hahaothien hahaothien is offline
Thành viên
Thành Viên Gắn Bó
 

Tên Thật: THIÊN HƯƠNG
Tham gia ngày: May 2009
Bài gởi: 131
Thanks: 1
Thanked 85 Times in 49 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 0 tổng số
Luyến Ái! Nguồn Gốc Của Khổ Đau

Đức Phật nói: “Nguồn gốc đau khổ của con người chính là luyến ái”.

Lời dạy của Đức Phật là một chân lý bất diệt và quá sâu sắc huyền diệu, có thể sẽ không có ai nhận thức thấu triệt được điều này nếu như chưa bao giờ trãi nghiệm từ bản thân của mình. Con người bị ràng buột bởi những cảm giác yêu thích, cảm mến quá nhiều nên phải chịu những khổ sở dằn vặt trong tâm can hay chúng được gọi là những phiền muộn, ưu sầu.

Như vậy Đức Phật có còn luyến ái hay không?

Có thể trả lời rằng: Có. Bởi vì Đức Phật còn thương chúng sinh đau khổ trong những dục vọng của thế gian nên Ngài đi tìm chân lý và truyền dạy những giáo pháp để con người theo đó mà thoát khỏi những khổ đau. Đến Bồ Tát đã thoát khỏi con đường sinh tử luân hồi rồi nhưng vì còn thương chúng sinh trầm luân trong bể khổ nên chưa nhập Niết Bàn mà còn tái sinh quay trở lại trần gian để cứu giúp con người. Đó chính là lòng thương yêu!

Vậy tại sao Đức Phật luyến ái mà không bị ràng buột trong những đau khổ hay phải chịu cảnh luân hồi như chúng sinh? Sự khác nhau giữa luyến ái của nhân sinh và Đức Phật (Chư vị Phật hay Chư Bồ Tát)?

Do tình thương của Đức Phật bao trùm toàn bộ mọi vạn vật trong cuộc sống này từ loài người, động vật cho đến cây cỏ. Sau khi Ngài đạt giác ngộ, thì ngay lúc này trong tâm Ngài mọi con người đều như nhau, tất cả chúng sanh bây giờ đã trở thành người thân của Ngài, tình yêu thương chỉ có một và được giành cho tất cả mọi người. Ngài không phải vì xem vua Tịnh Phạn là cha mình mà thương yêu, giúp đỡ, kính trọng người nhiều hơn những người khác. Không, Đức Phật bây giờ đã xem mọi người đều là người thân của chính mình. Bây giờ Ngài đã không còn một người cha, một người vợ hay một người con.


Còn tình thương (luyến ái) của nhân sinh thì sao? đó chính là tình thương mến của mọi vật thân cận cho rằng là của mình, như Ba mẹ thương yêu chúng ta, lo lắng cho ta những khi đói rét, bệnh hoạn hay khó khăn, vì chúng ta là máu thịt của cha mẹ, là một người con của cha mẹ. Còn những người đang đi ngoài kia của cuộc sống dù có nghèo đói, khổ sở thì Ba mẹ chúng ta cũng không bận tâm để ý tới hay phần nhiều không lo lắng đến, vì đó chính là người xa lạ không thân thích chi cả. Đây chính là luyến ái vị kỷ!

Sự khác biệt rõ rệt! Đó là tình thương (luyến ái) của Đức Phật chính là tình thương không còn “cái tôi” trong đó. Còn tình thương của chúng ta bám chấp vào “cái tôi” của mình, cho rằng những điều đó là của ta nên ta mới quan tâm, chú trọng, chăm lo vào nó thật nhiều. Chúng ta cho rằng đây là tiền của tôi, đây là đồ của tôi, đây là xe của tôi nên khư khư giữ lấy. Chính điều này sẽ tạo ra cho ta lòng vị kỷ vì bám vào những xác thân giả tạm, những vật chất không bao giờ bền vững của cuộc sống này [Do bản chất cuộc sống quá vô thường (sự không thường còn, thường hằng)]. Không chỉ thế nó còn tạo cho ta lòng ham muốn, gìn giữ, ích kỹ. Lòng thù hận, ganh ghét, ngạo mạn cũng sẽ nảy sinh theo sau và khổ đau sẽ theo như bánh xe theo dấu chân bò vậy. Do quá bám víu và điều gì hay vật gì mà làm cho ham muốn sinh ra càng nhiều. Bởi trong cuộc sống chúng ta thường không bao giờ yêu thích một điều gì mãi được, nó sẽ nhàm chán rồi đi vào quên lãng, để chúng ta cứ đi tìm những niềm vui mới thì chính là ta đang gieo cho mình cái lòng dục vọng không cùng đấy. Lòng ham muốn là một nổi khổ của con người mà sẽ không ai thấu hiểu được nếu mình chưa kinh qua việc ấy. Sợ hãi sẽ được sinh ra do lòng tham ái, nếu bạn không còn tham ái thì sợ hãi sẽ chấm dứt, khổ đau sẽ xa lìa. Cũng vậy do bản chất mong muốn mà ta sẽ bị hoàn cảnh làm thay đổi những bản tính, thường thì có chiều hướng xấu đi nhiều hơn; như khi ta nhìn thấy người khác có cái điều mà ta không có thì ta sẽ sinh ra ghen tức và ác cảm. Nếu chúng ta còn cho rằng cái này là của ta, cái kia là của ta thì dám chắc chắn một điều rằng ham muốn, ganh ghét, thù hận, kiêu ngạo sẽ còn trong bạn và cho đến suốt cuộc đời cũng không thể thoát khỏi những điều đó.


Đó chính là luyến ái khổ đau do ta thấy rằng những điều đó, vật đó quan trọng đối với ta! Khi chúng ta không còn cho rằng những điều gì hay vật gì là của ta thì chúng ta có được trạng thái thanh thản, và cũng chính là phương pháp ngăn cản những khổ đau xuất hiện.

Sống trong cuộc sống này chúng ta không phải chịu lệ thuộc bất cứ sự ràng buột nào; là phải từ bỏ như một người tu hành chính thức. Nhưng chúng ta phải biết nguồn gốc xuất hiện những đau khổ và ngăn chặn nó, bởi vì những thói quen xấu được hình thành thì chúng ta phải chịu một khó khăn vô cùng trong thời gian rất lâu để đấu tranh lại tâm can của chính mình. Với ta ngày nay chúng ta phải từ bỏ những thói ham muốn không cần thiết đối với mình. Có thể những lạc thú đó mang lại cho ta những cái thỏa mãn dục vọng, những danh lợi, nhưng ta sẽ không bao giờ có sự an lạc trong tâm hồn được. Lời Đức Phật dạy: Chẳng phải do cha mẹ hay bà con xa của ta làm, mà do tâm niệm hướng đến điều chánh thiện mới làm cho ta cao thượng hơn. (Kinh Pháp Cú).

Nhiều khi chúng ta tìm đọc khá nhiều sách, quá nhiều lời dạy từ kinh rồi chúng ta cho rằng ta hiểu biết, thực vậy; thực ra chúng ta vẫn như những con người không có hiểu biết, giống như một con người ngày xưa khi chúng ta chưa từng gặp được Phật Pháp. Nhiều khi chúng ta lừa dối bản thân mình mà không hề biết điều đó, chúng ta không thể nói rằng chúng ta đã không còn ham muốn, kiêu ngạo hay ganh ghét khi mà trong tâm bạn vẫn chất chứa nó. Thử hỏi trong lòng còn đầy những điều ô nhiễm, ham muốn, kiêu ngạo thì đọc kinh sách, tìm hiểu Phật Pháp để làm gì?. Con đường để thoát khỏi đau khổ của cuộc sống hay đạt được thành quả bậc A La Hán (không còn bám víu, ràng buột vào dục vọng cuộc sống) sẽ không thể nào được nếu chúng ta còn cho rằng điều gì hay vật gì đó là của ta; hay ta còn yêu thích điều gì, muốn được có điều gì đó, hoặc còn điều gì đó làm cho ta cảm thấy yêu thích, rung động. Sẽ mãi không bao giờ! và chắc một điều rằng đau khổ sẽ còn xuất hiện!. Chúng ta hiểu rằng nghiên cứu Phật Pháp là để thực hành, chứ không phải như tiền để bỏ túi, “ học để mà tu, chứ không phải học để mà học”. Trong Ngọc Lịch Minh Kinh có nhắc đoạn Diêm Vương hỏi Lâm Tự Kỳ rằng: “Bao năm tụng nhiều kinh sách chứ có thông hiểu nghĩa lý chăng?”. Tự Kỳ tâu: “Tôi đọc nhưng không thông hiểu cho hết”. Phán: “Kinh sách của Đức Phật truyền dạy lại rất thâm diệu khó thông hiểu hết, chỉ cần hiểu được vài câu và thực hành theo nó thì cũng có thể đạt được thành quả trong đời sống hiện tại.” Lời kinh sách, băng đĩa dạy quá nhiều nhưng chúng ta thực không làm theo được, rồi cứ tìm theo học, đọc, xem nhiều thì chả có ích lợi chi cả. Giáo lý của Đức Phật được ví như một chiếc bè, chúng ta dùng chiếc bè để qua sông tham ái chứ không phải đội chiếc bè ở trên đầu, sau khi chúng ta đã qua được bờ bên kia thì chiếc bè sẽ được để lại chứ không phải mang theo. Dường như ngày nay con người chỉ vác chiếc bè trên đầu mà thôi, thì chúng ta mãi không thể nào qua được bờ bên kia. Điều mà Đức Phật mong muốn chính là chúng ta phải sống cuộc đời phẩm hạnh chứ không phải chỉ lo tôn thờ và sùng bái bằng hoa quả hay lời tán tụng.

Đời sống hôm nay chúng ta gặp được Phật Pháp thì đã mở ra một khởi đầu trên con đường tu tập, đã trãi qua nhiều kiếp sống đến hôm nay cho ta gặp được giáo lý chánh đạo, và được mang thân con người để tư duy thì chúng ta quá may mắn rồi, chúng ta phải bước đi dần dần để đi đến Phật Quả, đừng nên chờ đợi và chịu khổ đau nữa. Chúng ta đã qua khỏi bậc xúc sanh, ngạ quỷ rồi thì cứ tiếp tục mà tiến lên, đừng vì những vướn bận của cuộc sống hôm nay mà khiến ta phải chịu đau khổ trong vòng sanh tử hay trở lại bậc thấp hơn, chúng ta học thì phải lên lớp chứ không phải lưu ban lại. Cuộc đời chỉ có 2 cảnh vui và khổ mà có người cam chịu hoài, không có gì ngoài 2 bản chất ấy cả.

Đặc Tính Vô Ngã - Tìm Phật Ở Đâu?

Như đã nghe chúng ta sẽ nói rằng tìm Phật ở Tâm. Phật tại tâm nghĩa là chúng ta phải quay trở lại tâm can của mình để loại bỏ hết tất cả những luyến ái, ác cảm, ngạo mạn, ganh ghét…, rửa sạch đi những vết nhơ ô nhiễm đã bám động trong ta bấy lâu nay. Tâm chúng ta chính là nơi khởi dậy những thói xấu ấy và cũng phải hiểu nó là nơi tạo tội lỗi của con người. Chúng ta tạo tỗi lỗi ở đâu thì phải quay về nơi ấy mà cải sửa và khi ta đã qúet sạnh nhưng ô nhiễm trong tâm can thì chúng ta đã trở thành một vị Phật rồi, lúc đó an lạc nhất định sẽ xuất hiện. Con người ngày nay quá coi trọng vào việc cầu khẩn, nghi lễ, sách vở, hình thức bên ngoài để cho tâm chạy theo những dục vọng của cuộc sống vô thường này, thì hỏi cho đến bao giờ mới có thể tìm thấy Phật, không kể chi đến bậc thánh mà ta có thể đạt được ngay trong cuộc sống này. Chúng ta hằng ngày chăm sóc cho bản thân, đeo theo danh lợi để thỏa mản xác thân, làm thỏa đi cái lòng dục vọng, ngạo mạn của mình. Bỏ phí thời gian quý báo để chăm sóc cho thân xác giả tạm, bởi vì chúng ta quá chú trọng vào vẻ bên ngoài, chúng ta sợ phải đối diện đến sự coi thường của nhân sinh với mình, nhưng quả thật không biết rằng chính điều chánh thiện mang đến cho ta sự cao quý. Thân xác là gì? Khi mà chúng ta ra đi thì nó sẽ bị vùi dưới 3 thướt đất giống như một thân củi khô bơ vơ không một ai muốn chạm tới. Thân xác của ta không khác chi một cái áo, ta sẽ thay bỏ khi nó cũ kỹ; tức là thân xác già và chết đi, qua đời sống mới chúng ta sẽ mượn một chiếc áo khác để mặc tức là thân xác mới, thì thử hỏi xem chiếc áo cũ sau khi đã bỏ đi thì có ai còn nhớ đến nữa, nó nằm trong quên lãng đời đời kiếp kiếp, giống như Tần Thủy Hoàng để lại tiếng xấu muôn đời thật; nhưng bây giờ nhớ lại thì chỉ có cái tên và hình ảnh tượng trưng thôi, thử hỏi bây giờ có chỉ chích, ghét tận xương tủy, nguyền rủa thì ông ấy bây giờ đang ở đâu? Có thể Ông ấy đang mang một thân xác ở đâu đó trong cõi tam giới này, bây giờ Tần Thủy Hoàng là quá khứ, ông ấy chỉ thuộc vào thời gian của ông ấy trong quá khứ mà thôi và Tần Thủy Hoàng đã không còn liên quan gì đến ông ấy cả, ông ta đâu còn là ông ấy nữa? Thì những căm hờn, thoái mạ kia ảnh hưởng chi tới bộ xương khô của Tần Thủy Hoàng dưới mồ sâu hay tấm ảnh trên giấy viết. Cái thân xác mà ta luôn cho rằng là của mình thì nó mang lại lợi ích chi ngoài những thị phi của cuộc sống. Thuở xưa vào thời Đức Phật có một người tên Vakhali xuất gia chỉ muốn được nhìn ngắm vẻ đẹp của Đức Phật. Khi đó Đức Phật nói: “Này Vakhali, ngươi được lợi lộc gì từ tấm thân bất tịnh này?”. Cho ta thấy được rằng Tấm thân chúng ta chỉ là một vũng bùn nhơ mà thôi, còn tâm thức là tất cả, nó mới thực sự là của chúng ta. Con người được cao thượng là do hành vi chứ không phải là vật chất tô điểm trên thân thể, những vật chất đó chỉ tăng thêm lòng ham muốn, thù hận và ganh ghét nơi cuộc sống. Đức Phật từng nói: “Này, cái khăn và bộ tóc là cái gì? Hỡi người ngốc nghếch kia? Sử dụng da báo làm đồ trang sức để làm gì? Bên trong các ngươi tràn đầy bất tịnh, thế mà các ngươi lại giữ cho sáng sủa và sạch sẽ bên ngoài.” (Trích Đức Phật Tối Thượng-HT Weragoda sarada maha thero). Đặc tính vô ngã cần phải được quán xét hằng ngày để chúng ta hoàn toàn tách khỏi được những dục vọng của chính mình, phần tâm thức chính là quan trọng nhất làm nên một con người cao thượng hay hạ tiện, như một quả cam nhìn bên ngoài thì tươi đẹp nhưng thoát vỏ ra là mớ ruột hư thì làm sao dùng được, ví như tâm thức của con người nếu như ô nhiễm bởi dục vọng thì làm sao mà hữu ít cho cuộc đời, khi ấy con người đó đã trở thành một gánh nặng cho thế giới này. Và Tại sao Đức Phật được toàn thế giới kính trọng, là một người vĩ đại nhất thế giới? Đó là nhờ vào phẩm hạnh không gì sánh được chứ không phải là thân xác, quyền lực, hay thân phận là một thái tử Tất Đạt Đa. Ngài nhìn thấy rõ đời sống sa hoa là một ràng buột, bởi Ngài hiểu những thứ đó không thuộc về Ngài và nếu Ngài cố gắng giữ nó thì chỉ được khoảng mấy chục năm mà thôi vì nó sẽ phải mất dần đi. Con người cho rằng thời gian 1 đời sống con người là thật dài nên họ đi tìm những niềm vui hạnh phúc vĩnh cửu. Họ bám vào cái ngã để thỏa mãn dục vọng. Chúng ta phải quay lại tâm mình mà tìm cảnh Niết Bàn, đó chính là vứt bỏ đi cái tôi giả tạm thì bạn sẽ hiểu được lòng thương, lòng khoang dung và sự từ bi, lúc ấy bạn sẽ hiểu được cảm giác của vị Đạo Sư mà bạn vô cùng kính mến. “Khi bạn say mê phục người khác, tỏa tình thương ra bên ngoài thì không bao lâu bạn sẽ thoát khỏi cái tự cao, ngã mạn của chính mình – [Chết Có Thật Đáng Sợ - Is Dead really fightening?] - Tiến Sĩ Hòa Thượng Dhammananda”.

Tham ái xiềng xích con người vào những dục vọng của đời sống khiến chúng ta dần mất đi tự chủ nếu như là một con người vô minh và thiếu sự tin tấn (một chi trong Bát Chánh Đạo). Chúng ta sẽ nhìn nhận thấy rằng phải trãi qua 2 giai đoạn để đi đến giải thoát: muốn đi tìm pháp môn tu thực hành đúng đắng thì chúng ta phải nhận thấy và thấu triệt được sự vô thường, đau khổ và vô ngã, đây là 3 đặc tính được Đức Phật thuyết giảng trong 49 năm hoằng pháp, như vậy chúng ta mới đạt được trí tuệ trong kiếp sống này. Đây là đặc trưng mà bất cứ một vị Phật hay nhà sư tu chân chính đều thấu triệt nó. Pháp môn tu kể ra thật rất nhiều tùy theo cơ duyên và môi trường mà thích hợp cho mỗi người, nhưng khi chúng ta không có sự hiểu biết thì chúng ta không bao giờ lưu giữ những điều đó trong lòng và khó mà đạt sự thanh thản nào trong đời sống. Sự cần thiết mà Đức Phật dạy rằng Chúng ta phải là người có kiến thức thật sự. Kiến thức ở đây là như thế nào? Thực nói rằng có bốn mươi tám ngàn pháp môn để tu tập thì khó mà đạt được trí huệ và giải thoát được, vì rằng Pháp truyền lại thật không sai nhưng nó quá nhiều không tập trung vào sự giác ngộ chỉ giúp cho con người sống đời sống bớt được tạo nghiệp khi theo các Pháp mà thôi. Cái quan trọng mà chúng ta cần đó chính là thấu triệt được 3 đặc tính bằng sự suy gẫm và trãi nghiệm trên bản thân, đó chính là sự vô thường, đau khổ và vô ngã. Trong đó đặc tính vô ngã là yếu tố quyết định để nhìn nhận vòng sinh tử luân hồi không còn tiếp diễn đối với chúng ta. Khi hiểu sâu được 3 đặc tính khi đó chúng ta mới cảm thấy được rằng con đường mà Đức Phật đã chỉ dạy quả thật đúng là con đường thường hằng. Như sự từ bỏ, bạn có bao giờ nghĩ tại sao Đức Phật có một đời sống sung sướng nhất cõi đời này, Ngài có được giàu sang, quyền lực, một người vợ đẹp và một đứa con ngoan. Vậy mà tại sao Đức Phật bảo rằng đó là sự ràng buột, sự vướn bận nên Ngài mới đặt tên cho đứa con là La Hầu La (sự trói buột).

Niết Bàn hay giải thoát không đạt được khi chúng ta còn giữ cái ngã của mình, vì bản chất của tự nhiên là “Không”, đó là cảnh giới mà rất nhiều Chư Phật và Bồ Tát đã đạt được.

Bản Chất Của Nghiệp

Ghét của nào trời cho của đó? Câu châm ngôn mà những người xưa đã nói ra và được truyền lại cho đến nay, nó quả thật không sai, ý nghĩa của nó không phải nói, nghe rồi bỏ qua. Trong đời sống hôm nay có quá nhiều hình ảnh bi thương mà con người gánh chịu, thực không phải là một sự bất công trong cuộc sống. Chúng ta đối mặt rất nhiều điều trong cuộc sống, khi một sự ghê tởm nào đó xuất hiện chúng ta có ý lẫn tránh, cách xa vì nghĩ rằng nó làm chúng ta bị hạ thấp, như khi gặp một người nghèo khổ hơn ta, đầu tiên chúng ta có cảm giác rằng sự dơ bẩn, bần hàn, thấp kém hơn không đáng để ta nghĩ đến, khi ý nghĩ đã phát xuất trong đầu thì nghiệp quả đã được tạo ra, nhân quả đã ghi nhận sự việc và bạn phải trả giá cho ý nghĩ đó. Sau này bạn phải gánh chịu lại chính cái tình cảnh mà bạn đã làm như thế. Cũng một ý nghĩa rằng sự khinh miệt phải được nhận lại một cái quả tư tự. Do nhân quả là quy luật công bằng tuyệt đối!.

Đời sống của chúng ta đau khổ hay sung sướng, toại nguyện hay không toại nguyện ở ngày tháng sau thì xứng đáng với những dòng suy nghĩ và việc làm của ta hôm nay.

Vậy điều chỉnh nghiệp có thể không? Nghiệp đã vay tạo sẽ được trả dần trong đời sống, nếu làm xấu việc xấu sẽ theo sau, nếu làm tốt việc toại nguyện sẽ theo sau. Những dòng nghiệp cũ muốn xuất hiện phải có đầy đủ điều kiện thì sẽ bộc phát, như chúng ta sống đời sống phẩm hạnh thì nó không thể trổ sanh, khi chúng ta sống không thiện lành thì chúng ta đang tưới nước cho hạt nghiệp quả xấu trổ sanh nhanh hơn. Vì thế muốn đời sống tốt đẹp chúng ta phải sống đời sống trong sạch và cao thượng. Khi tích thiện nghiệp thì nghiệp xấu sẽ được trả dưới dạng tiềm ẩn bằng những thử thách trong cuộc sống, có thể không ảnh hưởng quả xấu lớn đến chúng ta. Để ngăn dòng chảy của Nghiệp chúng ta phải ở trạng thái thanh thản không mong cầu và từ bỏ, chúng ta có thể tìm những trạng thái ấy bằng Thiền Định. Khi tâm trở nên an lạc và bình tĩnh dần do thiền định mang đến thì Nghiệp sẽ không phát xuất nhiều như như Quả lớn.

Đời sống hôm nay đau khổ qua đời sống mới có thể thay đổi được nhưng điều kiện để làm được chính là Tư tưởng và hành vi của chúng ta thực sự trong sạch và phẩm hạnh?. Vì những tâm tính của ta hôm nay sẽ được tiếp diễn theo vòng sinh tử mãi, tức nếu chúng ta có những bản tính không thiện cảm, tham hận, ngạo mạn… thì đời sống tới chúng ta tiếp tục cuộc sống như vậy do Nhân quả sắp đặt hoàn cảnh cho chúng ta, và tâm thức của đời sống này chúng ta sẽ lại tiếp tục cho đời sống mới. Chập tư tưởng cuối cùng của chúng ta cũng vô cùng quan trọng, có người gần chết chịu phải bệnh hoạn, đau khổ vằn vặt, không có những tư tưởng chánh thiện thì đời sống mới sẽ theo tư tưởng và nghiệp của mình đã tạo từ trước. Còn người hiểu biết khi tuổi già đã đến, con người quay trở lại với tâm tính, sự thanh thản, hồi hướng, nguyện cầu, và luôn nghĩ đến hình ảnh Chư Phật hay nguyện được tiếp nối trên con đường đạo cao đẹp với lòng tin tưởng và chân thành thật lòng; thì sẽ dẫn chúng ta tiếp tục gặp Phật Pháp ở đời sống sau. Những người trong hiện tiền không gặp được Phật Pháp là do khinh chê, không thích sự tu tập, xem thường đạo Phật nên đời sống cứ trôi theo nghiệp quả mà không có bến bờ nương tựa và đời sống mới chắc chắn sẽ như vậy. Vì thế đối với con người, khi những ngày hoàng hôn của cuộc đời bắt đầu thì nên tìm về với sự thanh thản, sự từ bỏ và theo việc tụng niệm câu Lục Tự Di Đà, Thiền định hay hồi hướng về với Phật Pháp Tăng bằng chân tâm của mình… Còn với chúng ta hiểu biết thì phải thực hành ngay bây giờ không thể chờ đợi được. Như có một vị tùy kheo đến nói với Đức Phật rằng: “ Xin Ngài hãy nói cho tôi nghe về thế giới này là Hữu Hạn hay Vô Hạn, nếu Ngài không trả lời, tôi sẽ từ bỏ đời sống xuất gia hiện nay.”. Đức Phật trả lời: “ Này Tùy kheo, nếu như có một người bị mũi tên độc bắn trúng vào chân, người ấy không chấp nhận cho mọi người rút mũi tên ra cho đến khi nào tìm được người đã bắn mũi tên và phải biết tên độc kia được làm từ đâu, thì mạng sống của người đó đã kết thúc trước khi biết được nguyên nhân”. Đức Phật muốn chúng ta phải thực hành những giáo Pháp do Ngài dạy ngay bây giờ và không nên đợi chờ, bởi vì chúng ta không ai có thể biết trước được ngày mai, tháng sau hay năm tới của chúng ta là như thế nào?. Muốn điều chỉnh được Nghiệp của mình thì chúng ta phải hiểu rõ nơi đâu mà Nghiệp phát xuất?.


Khi chúng ta có hiểu biết thì chưa phải đã đạt được an lạc, bạn còn phải chịu khó khăn để thoát khỏi những cảm xúc của mình. Một thời gian dài và khó khăn; đó là điều bạn phải trãi qua và nhớ là không có con đường nào khác ngoài việc từ bỏ. Bạn phải nhớ “Bạn phải chịu đau khổ rồi mới được hạnh phúc”, bạn có chọn lựa đau khổ trước rồi hạnh phúc lâu dài hay là sung sướng trước rồi đau khổ suốt đời?. Hạnh phúc không thể tự có được đó là một chân lý bất diệt và không có mặt trái của nó.

Vì sao Đức Phật Đạt Được Niết Bàn?

Ngày xưa sau 6 năm tìm con đường giải thoát chịu biết bao nhiêu là khổ cực, hành xác dường như là cùng cực của thế gian nhưng vẫn không tìm thấy sự giác ngộ. Cuối cùng Ngài nhớ lại thuở thiếu thời lúc trầm tư đã cảm thấy sự an lạc, cùng được học đạo từ hai vị Đạo sư chỉ dạy về Thiền hành, cuối cùng Ngài đã ngồi dưới cội Bồ Đề chiến đấu với tâm ma (maga) của mình mà thành đạo. Ngài nói “Cho dù thịt nát xương tan, cho thân thể này mục nát thì ta quyết không rời khỏi đây cho đến khi đạt được giác ngộ”. Sau khi đắc được tứ thiền, Ngài đã giải thoát hoàn toàn khỏi vòng sinh tử và những trói buột của thế gian. Ngài tuyên bố: “Đây là đời sống cuối cùng của ta.”. Thiền Định được xem là con đường duy nhất, nó mang cho ta sự thanh thản, dòng suy nghĩ không giao động và đưa ta đến trí tuệ. Khi đạt được trạng thái an lạc và thanh tịnh mãi mãi nên nghiệp lực sẽ bị đoạn tận và sẽ chấm dứt.

Đức Phật thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi do Ngài đã đoạn trừ được tất cả Nghiệp lực của mình, Ngài đã đạt được bậc Bồ Tát trong nhiều tiền kiếp nên sự thanh tịnh và từ bi tồn tại trong Ngài và không một cảm xúc nào khác, nên không có tạo nghiệp bất thiện, vì thế Ngài không còn phải vay và trả. Vì Nghiệp đã gieo sẽ do luật Nhân Quả quyết định, nó sẽ sắp đặt cho chúng ta nơi tái sanh và được khổ đau hay vui sướng tùy theo nghiệp của mình đã tạo tác. Nghiệp chúng ta đã gieo sẽ phải được trả từ từ và sẽ không mất đi bởi không có bất cứ một ngoại lực nào có thể xóa bỏ chúng. Khi việc tác nghiệp đã dừng thì chúng ta sẽ không còn bị luật nhân quả chi phối, cùng sự tĩnh lặng chúng ta hòa nhập vào hư không và sẽ không bị ràng buột bởi vòng sanh tử luân hồi.

Trong tiền kiếp do Đức Phật đã là Bồ Tát nên không còn tạo nghiệp mà Ngài chỉ lo việc hành thiện tích đức, cũng giống như Bậc A La Hán những tư tưởng và hành vi không còn dao động nên nghiệp không thể sinh ra. Khi xưa Ngài khuất thực trong 49 năm để hoằng Pháp giáo lý vậy Ngài có nợ nhân sinh không?. Có thể trả lời là Không! Việc khuất thực thật có nhiều phần cao quý: Thứ nhất: Nó làm cho chúng ta hạ thấp được cái tôi giả tạm của chính mình, vì đây là giai cấp thấp nhất trong xã hội, tạo cho chúng ta không còn sự ham muốn và dục vọng. Thứ Hai: Việc khuất thực giúp cho chúng sanh tích tạo phước đức từ việc bố thí, tạo điều kiện để họ có căn lành trên đời sống và họ sẽ được phước báu vì từ sự bố thí. Thứ Ba: Do Đức Phật mượn việc khuất thực để truyền lại giáo pháp cho con người để thoát khỏi khổ đau và sự truyền đạt đó nhờ vào chén cơm của chúng sinh nên nhờ phần phước đó mà họ sẽ đạt được lợi lạc, vì thế Ngài không tạo Nghiệp từ sự khuất thực. Đức Phật nói rằng “ Khuất thực là lối tu cao quý nhất.”

Thiền Định

Tiến Sĩ Hòa Thượng K Sri Dhammananda viết: “Thiền Định là con đường duy nhất”. Trên con đường đi đến Niết Bàn chúng ta phải trãi qua giai đoạn Thiền Định, đó là giai đoạn cuối cùng mà không thể không có. Thiền Định là giai đoạn phải được thực hiện sau khi thấu hiểu Tứ Diệu Đế, đặc tính Vô Thường và từ bỏ Tham Ái. Nếu như không có Thiền Định thì chúng ta không thể nào đạt được con đường giải thoát cuối cùng, nếu chỉ lo vào việc hành thiện và giúp con người thì chúng ta chỉ được sinh vào nơi Thiên Giới hưởng được dục lạc mà thôi, chúng ta vẫn phải chịu luân hồi sinh tử, vì chúng ta còn những dục vọng tham, sân, si. Thiền Định đã giúp Đức Phật tìm được chân lý chỉ sau 6 ngày và 6 năm tìm kiếm đối với Ngài là một thời gian vô nghĩa.

Thiền định mang đến cho ta sự thanh lặng ngoài cuộc sống, làm giảm dần đi những dục vọng. Khi tiếp xúc với đời sống thường nhật chúng ta không tạo nghiệp nhiều từ những giác quan của mình, do thân dần ít ảnh hưởng bởi sự giao động của ngoại vật. Trong khi Thiền Định chúng ta sẽ xuất hiện được những cảm giác hỷ lạc và thanh tịnh, những thụ cảm giác quan dần bị xóa bỏ đi khi tâm trí chúng ta tập trung vào việc Hành Thiền.

Thiền Định được chia ra làm hai loại: Thiền Vắng Lặng và Thiền Minh Sát.
-Thiền Vắng Lặng: là loại Thiền tập chung vào một đối tượng để tìm sự thanh lặng.
-Thiền Minh Sát: là loại Thiền quan sát mọi vật, có nghĩa là chúng ta phải cảm nhận
được mọi vật và hiểu biết từng cảm xúc của chính mình, như khi đang đi chúng ta phải biết ta đang đi và từng bước chân ta phải biết đến, loại Thiền này là loại Thiền ngay trong cuộc sống. Thiền Minh Sát là loại Thiền giúp cho con người đạt được tuệ giác, được gọi “Tuệ Minh Sát”.

Thiền mang lại rất nhiều lợi ít cho đời sống chúng ta như giảm bớt sự ưu tư, phiền muộn, mang đến nhiều lợi lạc. Phần cốt lỗi chính giúp chúng ta được nhiều an lạc với cuộc sống bận rộn hôm nay, đó chỉ là sự cần thiết nhất trong đời sống.
Thiền định! chúng ta có thể huấn tập bằng cách chú tâm vào hơi thở của chính mình (có thể niệm Phật kèm theo) hay một đối tượng là hình Phật nào đó…và nên thực hành hằng ngày vào một giờ nhất định tùy theo sự sắp xếp thời gian mà chúng ta có thể. Như vào lúc sáng sớm khi người nhà chưa thức, chúng ta thức dậy vệ sinh và thay quần áo sạch sẽ rồi thực hành. Thời gian sáng sớm là thích hợp nhất vì yên tĩnh và dễ tập trung, để sau khi thực hành chúng ta bắt đầu một ngày mới với trạng thái thanh thản của tâm thức.

thay đổi nội dung bởi: Sức Sống Mới, 17-08-2009 lúc 09:50 AM.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Old 15-08-2009, 10:17 PM
hahaothien's Avatar
hahaothien hahaothien is offline
Thành viên
Thành Viên Gắn Bó
 

Tên Thật: THIÊN HƯƠNG
Tham gia ngày: May 2009
Bài gởi: 131
Thanks: 1
Thanked 85 Times in 49 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 0 tổng số
Xin Đính Chính

Bài viết của tôi có một phần lầm lẫn! Xin chư vị thứ lỗi do viết vội!

Tựa đề tôi đề là Luyến Ái là nguồn gốc của khổ đau. Đúng như Đức Phật nói vậy. Nhưng xuống dưới tôi viết là Đức Phật Luyến Ái
Điều đó sai hoàn toàn. Phải sửa lại là Đức Phật có tình thương hay không?

Tôi xin giải thích từ Luyến Ái?
Luyến Ái tức là những thương yêu, cảm mến trong đó có sự bám chấp vào. Đức Phật nói luyến ái này dẫn đến đau khổ
Còn Đức Phật và chư Vị Phật Hay Bồ Tát, hay A La Hán đã diệt hết mọi bợn nhơ của cuộc sống này. Tình thương của Ngài là là lòng thương yêu từ bi
Từ có nghĩa là nhân từ, thương yêu không bám chấp. Bi là xót thương đến nổi khổ của nhân sinh

Trích thêm phần Vì Sao Đức Phật nhập Niết Bàn.

Do không còn vay trả nghiệp nên các đời sống trước của Đức Phật đã sinh vào cảnh Thiên Giới. Nhưng Ngài không nhập được Niết Bàn là do bởi vì khi đó vẫn còn những dục vọng tham ái.
Vào đời sống cuối cùng Ngài đã tìm được chân lý, Ngài thiền định và xóa bỏ mọi những tham ái, dục vọng.

(Câu chuyện sau đây xin kể lại, tôi không nhớ từng chi tiết nhưng hàm ý rất rõ)
Thuở xưa có một người đi sau lưng Đức Phật, nhìn thấy những vết chân của Ngài nên đã nói ra " Đây không phải là bước chân của một của một con người bình thường".
Đức Phật dừng chân và đi vào gốc cây ngồi xuống với vẻ mặt trầm tĩnh và an lạc. Vị đó đi đến và hỏi Đức Phật
- Ngài có phải là một Thiên Nhân không?. Đức phật trả lời: "Ta không phải là một Thiên Nhân, nếu ta là một Thiên Nhân thì tức ta phải có ham muốn đó."
- Ngài có phải là một Càn Thát Bà không?. Đức phật trả lời: "Ta không phải là một Càn Thát Bà, nếu ta là một Càn Thát Bà thì tức ta phải có ham muốn của một Càn Thát Bà."
- Ngài có phải là một Dạ Xoa không?. Đức phật trả lời: "Ta không phải là một Dạ Xoa, nếu ta là một Dạ Xoa thì tức ta phải có ham muốn đó."
- Ngài có phải là một Con người không?. Đức phật trả lời: "Ta không phải là một Con Người, nếu ta là một Con Người thì tức ta phải có những ham muốn của một con người, ta đã quét sạch hết những ham muốn muốn, nhơ bẩn đó nên ta là "Phật". Hãy gọi ta là "Phật".

Trích trong " Đức Phật Tối Thượng" HT Weragoda Saraha Maha Thero Dịch giả: Thích Tâm Quang)
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #3  
Old 16-08-2009, 04:22 AM
HYMALAPSON's Avatar
HYMALAPSON HYMALAPSON is offline
::Administrator::
 

Tên Thật: HYMALAPSON
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 2,156
Thanks: 612
Thanked 798 Times in 487 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 33 tổng số
Tôi nhập đề tài cho bạn ,đinh chính bài viết nào thì đưa xuống bài viết đó khiến ngưoi đọc dễ hiểu
Chữ ký cá nhân
Trả Lời Với Trích Dẫn
Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời  


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt


Múi giờ GMT. Hiện tại là 09:00 PM.
+ Độ Phân Giải Chuẩn Của Website Site là 1366X768
+ phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.
+Mọi hình thức sao chép & Để lại NGUỒN đều được hoan nghênh
+Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng- Quan Âm Tu Viện,K2/77, Đường NAQ.
Khu phố 3, Phường Bửu Hòa, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
Liên Hệ qua Mail tranquoctuanls@gmail.com
+ HOTLINE : 0977.374.742 (OR) 0988.18.38.11