Diễn Đàn Phật Giáo

Go Back   Diễn Đàn Phật Giáo KINH ĐIỂN-PHẬT HỌC DƯỠNG SINH HỌC Thiền-Yoga

Gởi Ðề Tài Mới  Ðề tài đã khoá  
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 09-04-2010, 09:20 AM
nhannguyen's Avatar
nhannguyen nhannguyen is offline
Very Important Person
 

Tên Thật: Nhân Nguyễn
Tham gia ngày: Oct 2009
Tuổi: 31
Bài gởi: 118
Thanks: 46
Thanked 112 Times in 58 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 1 For This Post / 2 tổng số
Lương Sĩ Hằng - người nổi tiếng với cách ngồi thiền xuất hồn.

BÀI VIẾT BỊ XÓA DO LƯU TRUYỀN THÔNG TIN SAI CHÁNH PHÁP
Chữ ký cá nhân

Nam Mô A Di Đà Phật
Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật Tịnh Độ
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát lòng bồ đề
Trút một báu thân này
Đồng sanh Cực Lạc quốc.
The Following 2 Users Say Thank You to nhannguyen For This Useful Post:
doccohuyenthoai (27-10-2013), thienvuong (20-11-2010)
Đã cám ơn
imchuechan (19-05-2012)
  #2  
Old 09-04-2010, 02:47 PM
HYMALAPSON's Avatar
HYMALAPSON HYMALAPSON is offline
::Administrator::
 

Tên Thật: HYMALAPSON
Tham gia ngày: Sep 2007
Bài gởi: 2,145
Thanks: 599
Thanked 794 Times in 483 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 1 For This Post / 33 tổng số
Mới đọc qua đề tài này đã biết không phải thuộc phật giáo hãy nghe HT Thích Thanh Từ (Vua Thiền Đông Nam Á ) Giảng về thiền phật giáo chư phật tử chớ mê lầm là bí pháp hay mật pháp chi chi nha

Giới thiệu đường lối tu thiền của Phật giáo
-o0o-
A- Dẫn nhập
Tu thiền là thực hiện theo nguồn gốc của đạo Phật. Vì xưa kia, Đức Phật tọa thiền suốt bốn mươi chín ngày đêm dưới cội bồ đề mới được giác ngộ thành Phật. Chúng ta là Tăng Ni, Phật tử học giáo lý của Phật thì phải đi theo con đường mà Phật đã đi, không đi con đường nào khác, dù đường ấy người thuyết giảng nói linh thiêng mầu nhiệm, chúng ta cũng không theo. Chúng ta cần phải giảng trạch pháp thiền nào không phải của Phật dạy và pháp thiền nào của Phật dạy, để có cái nhìn chính xác, để tu và đạt được kết quả tốt đúng với giáo lý mà mình đã tôn thờ.
B- Nội dung
A. Thiền không phải của đạo Phật
1- Thiền chuyển luân xa: Thiền này hành giả dẫn điện từ rốn ra sau lưng, lên đầu xuống rốn, từ rốn ra sau lưng, lên đầu xuống rốn, dẫn điện chạy vòng vòng như vậy là chuyển luân xa.

2- Thiền xuất hồn: Hành giả mở các khiếu huyệt trên thân rồi xuất hồn bay đi học đạo với các bậc thầy chưa từng biết, sau đó tự thực hành. Thiền này có hai cái hại: Cái hại thứ nhất là khi mở huyệt đạo để xuất hồn, có người mở không khéo phát điên. Cái hại thứ hai là xuất hồn bay đi học đạo, ai nói là minh sư liền theo, không giảng trạch chánh tà nên dễ bị thần linh đánh lừa.

3- Thiền thai tức: Hành giả thở vô, giữ hơi tại đan điền một lúc rồi mới thở ra, lâu ngày bụng dưới lớn dần như người nữ có thai, nên gọi là thiền thai tức.

4- Thiền luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần: Hành giả luyện tinh hóa thành khí, luyện khí hóa thành thần. Đây là lối tu tiên, đưa người đạt được thần thông du hí khắp mọi nơi.

5- Thiền Yoga hay Du già: Thiền này có nhiều cách tu, trọng tâm thiền này luyện cho cơ thể khỏe mạnh hơn là giải thoát.

Năm loại thiền kể trên thuộc thiền ngoại đạo, không phải thiền của đạo Phật.

B. Thiền của đạo Phật
Thiền của đạo Phật trọng tâm phát huy trí tuệ, phá si mê chấp ngã chấp pháp, để giải thoát sanh tử luân hồi đau khổ. Tạm chia ra: Thiền nguyên thủy, Thiền Đại thừa phát triển, Thiền tông.

I. Thiền nguyên thủy: Thiền nguyên thủy được truyền bá ở các nước: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia... Thiền nguyên thủy có rất nhiều pháp, ở đây chỉ nêu lên những pháp thường dùng.

1- Tứ niệm xứ
* Quán thân bất tịnh: Là thấy đúng như thật về thân. Quán xét thân mình từ đầu tới chân toàn là một đãy da bao bọc não, tủy, thịt, gân, xương, máu, mủ... Những món này còn nằm trong đãy da thì dễ coi một chút, nếu nó ra khỏi đãy da thì rất nhơ nhớp. Phần đầu là quý nhất, thế mà những chất tiết ra từ mắt là ghèn, từ tai là cức ráy, từ mũi là nước mũi, từ miệng là đờm dãi đều tanh hôi nhơ nhớp, ai thấy cũng gớm ghê. Thân mình và tay chân cũng như thế; chỗ nào trong thân bài tiết ra cũng đều tanh hôi nhơ nhớp, không có cái nào là sạch, là quý cả. Nếu bên trong thân sạch sẽ thì khi tiết ra có mùi thơm. Nhưng vì quá dơ bẩn nên tiết ra có mùi tanh hôi nhơ nhớp mà lúc nào chúng ta cũng ảo tưởng thân mình là đẹp, là sạch, là quý... Do si mê thấy thân lầm lẫn như thế, nên tự cao ngã mạn phát sanh bao nhiêu thứ phiền não. Do đó, Phật dạy chúng ta phải thấy đúng như thật về thân, để phá cái nhân si mê chấp ngã, dứt mầm luân hồi sanh tử.

* Quán thọ là khổ: Thọ là những cảm giác mà mình lãnh thọ. Mắt thấy hình sắc đẹp tâm ưa thích là cảm thọ lạc, thấy hình sắc xấu tâm chán ghét là cảm thọ khổ. Tai nghe âm thanh nhẹ nhàng trầm bổng vừa ý là cảm thọ lạc, nghe âm thanh nặng nề chát tai tâm bực bội là cảm thọ khổ. Mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Mắt thấy sắc không xấu không đẹp, tai nghe tiếng không hay không dở... tâm không ưa không ghét là cảm thọ không khổ không lạc. Thọ khổ thì thấy khổ quá rõ, còn thọ lạc tại sao lại khổ? Ví dụ lưỡi nếm thức ăn ngon là thọ lạc, nhưng thọ lạc chỉ trong phút chốc, thức ăn qua khỏi cổ là hết, hết rồi nhưng còn muốn nữa nên khổ. Cảm thọ không khổ không lạc cũng thế, có rồi mất, nó vô thường nên khổ.

Con người có hai cái chấp nặng nhất là chấp thân thật và chấp cảm giác của thân là quý, cho nên mắt đòi sắc đẹp, tai đòi âm thanh hay, mũi đòi hương thơm... Hết đòi cái này tới đòi cái kia, không có ngày dừng. Vì không thấy thọ đúng như thật, nên say đắm theo những cái ưa thích tạm bợ vô thường nên khổ. Phật dạy chúng ta biết đúng như thật những cảm thọ là vô thường, là khổ, để không đua đòi thụ hưởng thì không bị lệ thuộc với ngoại trần, được tự do giải thoát hết khổ.

* Quán tâm vô thường: Tâm người lúc nghĩ tốt lúc nghĩ xấu, lúc nghĩ chuyện mình lúc nghĩ chuyện người, nghĩ hết chuyện này tới chuyện khác, không phút giây dừng nghỉ. Tâm nghĩ suy chợt khởi chợt diệt, không nhất định, luôn luôn chuyển biến vô thường. Thế mà ai cũng cho là thường, là cố định, là chân lý, người nào nghĩ khác, làm khác ý nghĩ mình là nổi giận. Vì chấp những nghĩ suy là thường, là chân lý nên cãi vã, đấu tranh, sát hại, gây đau khổ cho nhau. Do đó, Phật dạy quán tâm nghĩ suy chợt khởi chợt diệt là vô thường không thật, để không lầm chấp nó là thường là thật, mới phá được kiến chấp mình đúng, kẻ khác sai.

* Quán pháp vô ngã: Có hai cách quán.

a)- Pháp chỉ cho những niệm buồn, thương, giận, ghét... Những niệm này không có chủ thể, không cố định; khi thì buồn lúc thì vui, khi thì thương lúc thì ghét... làm cho con người rối rắm bất an. Phật dạy quán những pháp này là tướng không cố định, không có thật, để phá niệm chấp ngã về tâm.

b)- Pháp còn chỉ cho tất cả sự vật như bàn, ghế, nhà cửa, ruộng vườn... Với mắt người phàm tục thì thấy cái bàn thật, cái ghế thật... Nhưng với mắt người trí tuệ thì thấy cái bàn cái ghế không thật mà do các duyên như gỗ, đinh, công thợ... hợp lại tạm có, có một thời gian rồi hoại diệt, nên nói là vô ngã, không có chủ thể. Thân người cũng là một pháp, cũng do đất nước gió lửa hợp lại tạm có, có rồi hoại diệt.
Phật dạy quán các pháp đúng như thật của nó là vô ngã để phá chấp thân là thật, chấp tâm là thật, chấp cảnh là thật. Khi thấy thân, tâm, cảnh không thật thì hết mê muội, hết luyến ái, hết chạy theo người, chạy theo cảnh.

2- Minh sát tuệ
Hành giả dùng trí tuệ thấy rõ và theo dõi từng cử động nơi thân, hoặc những ý nghĩ khởi lên nơi tâm. Ví dụ hơi thở vô bụng phồng lên, hành giả biết và chú ý niệm thầm "phồng à". Khi thở ra bụng xẹp xuống, hành giả biết và chú ý niệm "xẹp à". Hoặc tâm khởi tưởng điều gì phải biết ngay tâm đang tưởng tượng và niệm (thầm) liền "tưởng tượng à, tưởng tượng à"... Đó là thiền Minh sát tuệ.

Người theo Phật giáo Nguyên thủy tu thiền, hoặc quán Tứ niệm xứ, hoặc ứng dụng Minh sát tuệ, hoặc quán Ngũ đình tâm. Đó là những pháp thiền người tu theo Phật giáo Nguyên thủy thường dùng.

II. Thiền Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Phát triển
Thiền Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Phát triển được truyền bá ở Trung Hoa. Đại sư Trí Khải dạy tu thiền theo Lục diệu pháp môn gốc từ Phật giáo Nguyên thủy, nhờ ứng dụng khéo thành pháp tu của Đại thừa.

1- Lục diệu pháp môn
- Sổ tức: Hành giả điều hòa hơi thở không mạnh, không gấp, yên ổn, thong thả... hít vô thở ra đếm từ một tới mười, nhiếp tâm tại số, không cho dong ruổi gọi là sổ tức. Tâm hành giả vận chuyển tự nhiên theo hơi thở với số không cần gia công, biết hơi thở rỗng nhẹ, tưởng tâm lần lần tế nhị. Khi không muốn đếm thì bỏ sổ tức tu tùy tức.
- Tùy tức: Xả pháp sổ tức, tâm nương theo hơi thở ra vào, hơi thở vào thì theo vào, hơi thở ra thì theo ra, dứt hết các duyên, ý không phân tán. Biết hơi thở ra vô là thô, muốn bỏ, khi ấy xả tùy tức tu chỉ.

- Chỉ: Dứt các duyên lự, không nhớ đếm hơi thở hay theo hơi thở, tâm ngưng lặng gọi là tu chỉ. Biết thân tâm đứng lặng vào định, không thấy tướng mạo trong ngoài, hành giả khởi nghĩ định này tuy vô vi tịch tịnh, an ổn, khoái lạc, nhưng không có trí tuệ, không thể phá hoại nhân sanh tử. Khởi nghĩ như thế, không đắm nơi chỉ mà khởi quán.

- Quán: Tâm ở trong định dùng tuệ quán tưởng hơi thở ra vào vi tế như gió trong hư không, ba mươi sáu vật trong thân không thật, như bẹ chuối; tâm thức vô thường sanh diệt, từng sát na không có ta và người, người đã không có thì định nương vào đâu? Quán như thế, biết hơi thở ra vào khắp các lỗ chân lông, tâm sáng, thấy trong thân ngoài thân đều bất tịnh, biến đổi từng sát na, tâm quán lưu động, không phải đạo chân thật. Khi ấy xả quán tu hoàn.

- Hoàn: Đã biết quán từ tâm sanh hoặc từ phân tích cảnh sanh đều không hợp bản nguyên, phải phản quán, quán lại tâm năng quán, quán tâm này từ đâu sanh, gọi là tu hoàn.

- Tịnh: Bấy giờ tâm đã thanh tịnh, không còn nương theo hơi thở, không còn quán. Đó là tịnh.

2- Tam quán
Đại sư Trí Khải còn dạy tu theo Tam quán là quán không, quán giả và quán trung. Hành giả quán tất cả pháp trên thế gian này do nhân duyên hợp mà tạm có hình tướng, tạm có tên gọi, không có thật thể, nên nói là không. Tuy là không nhưng duyên hợp thì nó giả có. Vì giả có nên quán giả. Nếu thấy được nghĩa không giả hòa hợp là quán trung.

III. Thiền tông
Sau đây là pháp tu của Thiền tông. Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Êẽn Độ sang Trung Hoa, Ngài ở chùa Thiếu Lâm, ngồi xoay mặt vào vách không tiếp người gần chín năm. Hôm ấy vào tiết mùa Đông có Thần Quang là một thiền khách đến yết kiến, thấy Tổ ngồi xoay mặt vào vách, đứng chắp tay chờ mãi, tuyết rơi lên tới gối. Tổ quay lại thấy, hỏi:

- Ngươi đến đây cầu cái gì mà chịu khổ hạnh như vậy?
Thần Quang thưa:

- Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ rộng độ chúng con.

- Diệu đạo vô thượng của chư Phật dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay, huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa!

Thần Quang nghe dạy bèn lén lấy dao chặt cánh tay đặt trước Tổ tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Tổ biết đây là pháp khí bèn dạy:

- Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá.

Qua câu chuyện, chúng ta thấy Phật pháp cao siêu tuyệt vời đưa tới giải thoát sanh tử. Người tu đạo phải quyết tâm gan dạ xem thường thân mạng mới có thể đạt được, còn tu lai rai cầm chừng thì không thể tiến được.
Sau đó, Thần Quang thưa:

- Pháp ấn của chư Phật, con có thể được nghe chăng?

- Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.

- Tâm con chưa an, xin thầy dạy pháp an tâm.

- Ngươi đem tâm ra đây ta an cho.

Thần Quang nhìn lại tâm mình, tìm mãi không thấy ở đâu, bèn thưa:

- Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.

- Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

Ngay đó Thần Quang lãnh hội, biết pháp an tâm, Tổ đặt tên là Huệ Khả.

Từ lâu, ai cũng như ai đều cho cái nghĩ suy là tâm mình, nên hết nghĩ việc này, tới nghĩ việc kia, tâm lúc nào cũng loạn động bất an. Tổ bảo đem tâm ra ta an cho là bảo xoay lại tìm cái nghĩ suy lăng xăng đó ở đâu? - Khi xoay lại tìm thì nó lặng mất. Ý nghĩ lăng xăng mất ngay để tâm an. Vậy, xoay lại tìm ý nghĩ lăng xăng, thì ý nghĩ lăng xăng lặng, đó là phương pháp tu để được an tâm, để được định. Đây là phản quang tự kỷ, xoay lại soi sáng tâm mình, Tổ dạy tu một cách đơn giản, rõ ràng và thực tế, không phải chuyện xa vời không thực hiện được.

Về sau, Tổ Huệ Khả cũng dạy cho ngài Tăng Xán như thế. Một hôm có một cư sĩ đến đảnh lễ Tổ, thưa:

- Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình, xin thầy từ bi vì đệ tử sám tội.
Tổ bảo:

- Đem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối.

Cư sĩ đứng sững giây lâu, thưa:

- Đệ tử tìm tội không được.

- Ta vì ngươi sám hối rồi.

Sám hối cũng là lối phản quang tự kỷ. Ở trước thì phản quang tìm tâm (vọng tưởng), bây giờ thì phản quang tìm tội.

Về sau nữa, Tổ Tăng Xán cũng dạy cho Sa di Đạo Tín như thế. Sa di Đạo Tín đến đảnh lễ Tổ, thưa:

- Xin Hòa thượng từ bi ban cho con pháp môn giải thoát.

Tổ hỏi:

- Ai trói buộc ngươi?

- Không ai trói buộc.

- Không ai trói buộc đâu cần cầu giải thoát?

Đạo Tín nghe liền đại ngộ.

Các Ngài ngộ đạo đều xoay lại mình tìm coi vọng niệm có thật không, nghiệp tội có thật không, sự trói buộc có thật không? Thấy tất cả đều là ảo tưởng không có thật. Thấy nó không thật là ngộ được lý Thiền. Đó là lối phản quang tự kỷ.

Từ đời Tống trở về trước, Thiền tông chưa có pháp tu khán thoại đầu. Từ đời Tống trở về sau, các Thiền sư Trung Hoa trong tông Lâm Tế thấy đa số Tăng Ni đều thông hiểu lý Thiền, nhưng không chịu tu mà chỉ nói suông, nên các Ngài dạy khán thoại đầu không cho tìm hiểu nghĩa lý để nói suông nữa.

Khán thoại đầu là pháp tu mà hành giả dồn hết tâm lực khán câu thoại đầu do vị thầy hướng dẫn đưa ra cho tới khi ngộ. Trong thời gian này không học kinh luận, ngoại trừ những buổi khai thị của vị thầy. Hiện giờ, đa số Tăng Ni và Phật tử chưa thấu suốt lý Thiền, nên chúng tôi không hướng dẫn khán thoại đầu mà phải giảng dạy cho hiểu lý Thiền, hiểu rồi mới biết đường lối tu. Đó là tùy thời tùy cảnh mà dùng phương tiện cho hợp với căn cơ của người đương thời để tu cho có kết quả tốt.

C- Kết luận
Tu thiền là một pháp tu thực tế phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại. Tâm chúng ta khởi vọng tưởng phiền não, chúng ta khéo quán thì vọng tưởng lặng, hết phiền não, tâm an định. Tu tới đâu có kết quả lợi ích tới đó, rất cụ thể, không xa vời. Vọng tưởng phiền não là cái không thật hư ảo, nơi mình sẵn có Phật tánh là cái chân thật bị vọng tưởng phiền não che khuất, bây giờ bỏ hết vọng tưởng thì Phật tánh hiện ra. Đó là những vấn đề chủ yếu của việc tu thiền./.
Chữ ký cá nhân
The Following 7 Users Say Thank You to HYMALAPSON For This Useful Post:
em_lanh (20-11-2010), greenday (30-10-2012), ldcuong (31-10-2012), Quảng Diệu (31-08-2011), Sức Sống Mới (28-05-2012), sura (19-05-2012), tieutang56 (09-04-2010)
Đã cám ơn
imchuechan (19-05-2012)
  #3  
Old 09-04-2010, 03:11 PM
nhannguyen's Avatar
nhannguyen nhannguyen is offline
Very Important Person
 

Tên Thật: Nhân Nguyễn
Tham gia ngày: Oct 2009
Tuổi: 31
Bài gởi: 118
Thanks: 46
Thanked 112 Times in 58 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 2 tổng số
Cám ơn anh Hymapason nhiều, tự nhiên nghĩ lại xuất hồn ra rồi làm sao trở vô lại, lỡ như không vào được hoặc giả như cái xác như ngôi nhà hoang , có hồn ai ghé tạm ở luôn thì chết em. Bài em post lên với mục đích tham khảo chứ tu theo thì cần suy nghĩ lại.
Chữ ký cá nhân

Nam Mô A Di Đà Phật
Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật Tịnh Độ
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát lòng bồ đề
Trút một báu thân này
Đồng sanh Cực Lạc quốc.
  #4  
Old 09-04-2010, 11:08 PM
tranthongtue's Avatar
tranthongtue tranthongtue is offline
Thành viên
Thành Viên Mới
 

Tên Thật: THIÊN HƯƠNG
Tham gia ngày: Apr 2010
Tuổi: 34
Bài gởi: 1
Thanks: 11
Thanked 0 Times in 0 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 0 tổng số
Bác Tám Lương Sĩ Hằng là một nhà hiền triết lỗi lạc. Ông am hiểu nhiều học thuyết và giải thích sự vật thông qua thí dụ rất hay!
  #5  
Old 10-04-2010, 03:07 PM
hòn ngọc viễn đông's Avatar
hòn ngọc viễn đông hòn ngọc viễn đông is offline
Thành viên
Thành Viên Mới
 

Tên Thật: Tauhu
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 61
Thanks: 14
Thanked 48 Times in 28 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 1 tổng số
Thiền là gì ?

Người viết HT. Thích Kiến Tánh


Một câu hỏi khó giải đáp, vì Thiền phủ nhận tất cả, vì bản chất của Thiền vượt ngoài định nghĩa và giải thích, không có ngôn ngữ và văn tự, lời dạy đặc biệt ngoài kinh điển, hay "biệt truyền ngoài giáo điển", chỉ thẳng vào tâm, thấy tánh thành Phật "trực chỉ minh tâm, kiến tánh thành Phật". Thiền là một nghệ thuật sống, là sự sáng tạo của bản thể uyên nguyên vô cùng vi diệu là hành trình chư Phật, chư Tổ đã kinh qua và thấy rõ gốc rễ của vô minh, luân hồi nhiều kiếp của mình và chúng sanh. Ngọn đuốc Tuệ giác nơi các ngài bừng cháy đã thiêu rụi bóng ma của sinh tử.

Nhưng ở đây ta tạm mượn lời để diễn ý Thiền được gọi là Thiền Na, Phạn ngữ gọi là DHYANA - Trung Hoa gọi là CH'AN, Nhật gọi là ZEN dịch nghĩa là Tỉnh Lự. Tỉnh thức không mê lầm, không mê lầm là sự trong sáng thanh tịnh, không mê lầm nhân, không mê lầm quả.
Lục Tổ bảo: "Ngoài chẳng nhiễm cái duyên, trong chẳng loạn tưởng. Đó là Thiền".

Trong sự phát triển các phái Thiền ta thấy có:


a) THIỀN NGUYÊN THỦY (Nhị thừa Thiền)

Đức Thế Tôn dựa trên 6 căn 6 trần 6 thức mà dạy phá chấp ngã tướng, qua hệ giáo lý nguyên thủy gồm các Kinh: 4 Thánh đế, 8 Thánh đạo, 12 Nhân duyên, 3 Pháp ấn, A Hàm ... Tùy căn bệnh của đệ tử mà lấy pháp đối trị. Chẳng hạn như người nặng tham dục quán Tứ niệm Xứ. Nhiều sân hận quán Từ bi, nặng ngu si quán Nhân duyên. Nhiều loạn tưởng quán hơi thở, gọi là tu Quán. Ngoài tu Quán còn có tu Chỉ, ngưng bặt vọng tưởng, giữ tâm thanh tịnh, buông dứt ý niệm, hoặc hành Minh sát Tuệ. Đây là lối tu đầu tiên căn bản Đức Phật dạy cho mỗi đệ tử tìm chỗ thanh vắng trong hang động, bên bờ suối, chỗ vứt thây chết trong rừng, dưới gốc cây, hoặc chỗ nào thích hợp để nỗ lực hành trì tu tập.
Hành giả tu như vậy đạt từ Sơ thiền (lìa dục sanh hỷ lạc), Nhị thiền (định sanh hỷ lạc), Tam thiền (lìa hoan hỷ được vui vi diệu), Tứ thiền (buông hết tạp niệm được thanh tịnh).

Tứ thiền thuộc về Sắc giới, cũng gọi là Thiền phàm phu chứng từ Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm; tu thêm một buớc đạt đến bốn Không: Không Vô biên xứ, Thức Vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ thuộc về Vô sắc giới. Cộng chung là tám thứ định, tu thêm Diệt tận định. Đạt đến định nầy chứng quả A La Hán.

b) THIỀN ĐẠI THỪA

Pháp Thiền nầy phát triển từ phá chấp ngã tướng đi vào tánh. Ảnh hưởng hệ giáo lý Bát Nhã, Kim Cương, Lăng Già. Tuy có những mục như Thiền Nguyên Thủy. Chẳng hạn bậc Bồ Tát tu 5 pháp: Quán tam muội, Quán nhân duyên tam muội, Quán Phật tam muội, Quán bất tịnh tam muội, Quán lục diệu pháp môn. Riêng lục diệu pháp môn có:

1- Sổ tức môn, pháp đếm hơi thở từ 1 đến 10 từ 10 đến 1, ngăn trừ loạn tưởng, không niệm sanh khởi, tiến vào định.

2- Tùy môn, pháp không cần đếm, chỉ theo hơi thở
ra vào không niệm tưởng gì khác.

3- Chỉ môn, pháp ngưng tâm ý và hơi thở.

4- Quán môn, pháp quán tưởng thân thể từ đầu đến chân trong ngoài nhơ nhớp, chia chẻ thấu rõ. Từng phần vô thường giả hợp.

5- Hoàn môn, pháp xoay về quán tự tâm, sắc ấm che đậy đều diệt.

6- Tịnh môn, pháp làm cho trong sạch thân tâm, uế
dục đều lặng.

Với pháp Quán, hành giả quán từ giả tướng thấy thật tướng, tức vào thể tánh chân như. Thiền theo tông Thiên Thai của ngài Trí Giả Đại Sư ứng dụng pháp Trung Quán Luận của ngài Long Thọ tu tam quán. Quán không, Quán giả, Quán trung. Cho rằng cái pháp do duyên sanh, không cố định, tức quán không. Thể tánh các pháp là không nhưng duyên hợp tạm có, không thật, cũng gọi là Quán Giả, Không Giả đều buông bỏ chỉ còn nhất tâm chơn như cũng gọi là Quán Trung Đạo đệ nhất nghĩa. Như thế Thiền Đại Thừa gần với Thiền Tông, nhưng còn khác biệt ở chỗ có pháp để tu, có quả để chứng. Còn bên Thiền Tông thì không có pháp dạy người, không có quả để chứng đắc.

c) NHƯ LAI THIỀN


Thời kỳ nhận thức của chúng đệ tử khá cao, cho nên Đức Phật giảng kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Niết Bàn, dạy lối tu Liễu nghĩa thượng thừa, chỉ thẳng Tri kiến Phật, Như Lai tạng tâm. Tất cả chúng sanh đều bình đẳng pháp tánh, phải nhận được cái thấy biết tánh Phật của mình, tâm nầy là Kho Như Lai. Bồ Tát tu như thế đạt kết quả gồm 52 bậc tu chứng từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa đến Đẳng Giác và Diệu Giác là Phật, Như Lai.

d) TỔ SƯ THIỀN

Là pháp môn truyền thừa Tâm Ấn bắt đầu từ pháp hội núi Linh Thứu, Đức Thích Ca cầm cành sen đưa lên, đại chúng đều ngơ ngác, không ai hiểu yếu chỉ của ngài. Duy có trưởng lão Ma Ha Ca Diếp chúm chím cười. Do đó, Đức Phật nói: "Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay truyền cho Ma Ha Ca Diếp".

Từ đó dòng thiền Ấn Độ lần lượt truyền đến Bồ Đề Đạt Ma cả thảy 28 đời. Khi Bồ Đề Đạt Ma nhận giáo chỉ của Sư phụ Bát Nhã Đa La lên đường sang Đông Độ, thẳng đến Trung Quốc vào năm 520 T.L, gặp Lương Vũ Đế không xứng hợp khế cơ, ngài qua Giang Bắc vào đất Ngụy 9 năm đối vách tại động đá chùa Thiếu Lâm bằng lời khai thị:

"Chẳng lập văn tự,
truyền riêng ngoài giáo,
chỉ thẳng vào tâm,
thấy tánh thành Phật".

Qua câu chuyện An Tâm giữa sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma và nhị tổ Huệ Khả ta thấy thiền phong khẳng định tâm tức Phật, lấy Tâm Ấn Tâm, không ràng buộc giáo điều như Đức Phật đã dạy phổ thông cho bảy chúng đệ tử.

Đến đời Lục Tổ Huệ Năng mặc dù ngài lấy Định Huệ làm căn bản, và lấy 36 cặp đối ứng để phá tâm trụ chấp, thể nhận được "bản lai vô nhứt vật" nhưng có một thay đổi lớn qua lời dạy của ngài: "Nếu không gây nhân thì không có quả. Do vậy đừng tạo tác". Ngài đã trở thành Thiền T nổi tiếng qua lời dạy đơn giản nầy.

Như vậy mục đích của Thiền là chỉ thẳng vào tâm. Mục tiêu của Thiền là đạt đến giác ngộ giải thoát. Cho nên giáo lý của Đức Phật nói chung là lấy tâm giác ngộ làm nòng cốt, Thiền tông nói riêng cũng lấy tâm giác ngộ làm nòng cốt. Và tất cả pháp môn của đạo Phật cũng lấy tâm giác ngộ làm nền tảng.

Giác ngộ là nhận rõ chân tướng của vạn pháp là tánh không, nghĩa là nhận ngay trong sanh tử tức Niết Bàn, phiền não tức Bồ Đề, chúng sanh tức Phật, vô minh tức đại trí chơn như Bát nhã. Vậy Thiền và Giác đồng nghĩa như nhau không khác.

Có người cho Thiền là dễ bị lạc đường và tẩu hỏa nhập ma, nói như thế không phải là đúng. Bởi vì những pháp Thiền trong Phật giáo chính thống dạy về Minh Tâm Kiến Tánh. Còn có những pháp thiền ngoài đạo Phật, dễ rơi vào tà kiến điên đảo.

Thế nào là thiền ngoại đạo ?


Thiền ngoại đạo là lối tu không phải của Phật giáo, thường vọng cầu không thể giải quyết được luân hồi sanh tử, gồm có:

- Thiền Yoga.
Là lối tu có trước đức Phật hàng ngàn năm, do các đạo sĩ ẩn mình nơi hoang vắng, xa lánh sự ồn náo của thế gian, tìm về lối sống minh triết, tịch tĩnh tạo thành hai phái: Hatha Yoga, chuyên luyện tập thân thể chịu đựng với thời gian, mong được sống lâu, sống khỏe.

- Raja Yoga
. Luyện tập ý chí trở thành năng lực thông tuệ, đem Tiểu ngã hòa nhập vào Đại ngã. Dĩ nhiên họ cũng có thần thông, nhưng không có lậu tận thông.

- Thiền Xuất Hồn.
Chủ trương con người có hai phần xác và hồn. Phần xác họ cho rằng phía trước và sau dọc xương sống Nhâm và Đốc mạch lên tới đỉnh đầu, có những bí huyệt lưu chuyển gọi là luân xa. Mở các luân xa nầy và mở họp sọ nơi phía sau xoáy đầu sẽ được xuất hồn, bay đi chốn nầy, chỗ nọ, gặp cảnh sanh tình, vọng tưởng đam mê tham chấp, ắt sẽ bị điên loạn.

- Thiền Thai Tức.
Thai là gom hết thánh thai, tức là hơi thở. Đưa hơi thở xuống đan điền để luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần huờn hư. Như vậy kết được thánh thai (anh nhi), sẽ có thần thông và sống lâu, còn gọi là Phái Thiền tu Tiên.

- Thiền Phàm Phu
. Chú tâm và kỹ xảo như thôi miên, ảo thuật ...

- Thiền Thiêng Liêng.
Chú tâm vọng tưởng về một đấng thiêng liêng nào đó, dù không có thật để mong nhập vào xác mình ban cho kẻ khác thứ gì, như trị bịnh, nói hên xui, cầu danh lợi v.v...

- Tà Thiền.
Chú tâm luyện phù làm phép ếm đối để mê hại người, hoặc giả trò ma thuật lừa đảo người mê theo, để kiếm tiền tài, vật dục...

Tóm lại các thứ thiền trên đây mong sự mầu nhiệm và kéo dài tuổi thọ, hoặc thu hút kẻ hiếu kỳ muốn thấy sự huyền bí khác lạ. Khi hưởng hết phước, liền bị đọa lạc. Hoặc thân hoại mạng chung, cũng bị luân chuyển sáu nẻo luân hồi, khó mong ra khỏi. Tất nhiên trái với Thiền Tông của Phật Giáo. Thiền Phật Giáo nhằm khai mở trí tuệ, quét sạch vọng tưởng vô minh hôn ám, nhận rõ cuộc sống hiện tại, tự thắng và làm chủ lấy mình, trở thành giác ngộ giải thoát sanh tử khổ đau.


Như vậy giữa Thiền và Tịnh thế nào? Thật ra Thiền và Tịnh cũng chỉ là tỏ ngộ tri kiến Phật của mình tỏ ngộ tri kiến Phật là thấu rõ nguồn tâm.

Các pháp môn đức Phật giả lập để đối trị tâm bịnh chúng sanh, chỉ là phương tiện. Ví như dùng ngón tay chỉ mặt trăng, đừng chấp ngón tay ấy là mặt trăng cũng như danh hiệu A Di Đà chỉ cho tự tánh thanh tịnh của chúng sanh trong thế giới vô sanh.•

thay đổi nội dung bởi: hòn ngọc viễn đông, 10-04-2010 lúc 03:09 PM.
The Following 5 Users Say Thank You to hòn ngọc viễn đông For This Useful Post:
daothanhoai (24-05-2012), ldcuong (31-10-2012), Quảng Diệu (31-08-2011), sura (19-05-2012), tieutang56 (10-04-2010)
  #6  
Old 20-11-2010, 06:31 PM
em_lanh's Avatar
em_lanh em_lanh is offline
Thành viên
Thành Viên Kỳ Cựu
 

Tên Thật: NGUYÊN ĐỊNH
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gởi: 171
Thanks: 47
Thanked 151 Times in 74 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 0 tổng số
mục đích của các pháp môn tu của Phật là đi đến cứu cánh giải thoát ra khỏi sanh tử luân hồi đi ra khỏi cõi ta bà này chứ không nhằm mục đích đạt thần thông vì khi đạt thần thông rồi sanh ra ngã mạn dễ bị cuốn hút theo con đường xa rời chánh pháp rơi vào ma đạo mãi mãi không siêu thoát.

Ngày xưa trong rất nhiều vị đệ tử Phật đã đắc quả A la hán và đạt đựoc thần thông nhưng không ai dùng dùng thần thông của mình để biểu diễn khắp nơi việc đó nằm ngoài tiêu chí cảu đạo phật chúng ta.
Chữ ký cá nhân
The Following 5 Users Say Thank You to em_lanh For This Useful Post:
greenday (30-10-2012), kiepso56 (09-12-2010), nguyenhoc1959 (12-01-2011), Sức Sống Mới (28-05-2012), sura (19-05-2012)
  #7  
Old 19-05-2012, 04:03 PM
imchuechan's Avatar
imchuechan imchuechan is offline
Thành viên
Thành Viên Mới
 

Tên Thật: THIÊN HƯƠNG
Tham gia ngày: May 2012
Tuổi: 23
Bài gởi: 1
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 0 tổng số
bài viết hay quá cảm ơn chủ topic ạh
  #8  
Old 30-10-2012, 09:40 AM
atlas00's Avatar
atlas00 atlas00 is offline
Nhóm Nghiên Cứu Phật Học
 

Tên Thật: fgfdg
Tham gia ngày: Oct 2012
Tuổi: 29
Bài gởi: 2
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 0 tổng số
Trích:
Nguyên văn bởi HYMALAPSON View Post
Mới đọc qua đề tài này đã biết không phải thuộc phật giáo hãy nghe HT Thích Thanh Từ (Vua Thiền Đông Nam Á) Giảng về thiền phật giáo chư phật tử chớ mê lầm là bí pháp hay mật pháp chi chi nha
Trích:
Nguyên văn bởi HYMALAPSON View Post
A. Thiền không phải của đạo Phật

2- Thiền xuất hồn: Hành giả mở các khiếu huyệt trên thân rồi xuất hồn bay đi học đạo với các bậc thầy chưa từng biết, sau đó tự thực hành. Thiền này có hai cái hại: Cái hại thứ nhất là khi mở huyệt đạo để xuất hồn, có người mở không khéo phát điên. Cái hại thứ hai là xuất hồn bay đi học đạo, ai nói là minh sư liền theo, không giảng trạch chánh tà nên dễ bị thần linh đánh lừa.


BÀI VIẾT BỊ XÓA DO LƯU TRUYỀN THÔNG TIN SAI CHÁNH PHÁP

thay đổi nội dung bởi: atlas00, 30-10-2012 lúc 10:04 AM.
  #9  
Old 31-10-2012, 09:51 PM
Boi!!!'s Avatar
Boi!!! Boi!!! is offline
Thành viên
Thành Viên Kỳ Cựu
 

Tên Thật: Boi
Tham gia ngày: Jan 2011
Bài gởi: 162
Thanks: 29
Thanked 135 Times in 80 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 2 tổng số
Cột tủy của đạo phật là diệt trừ tham sân si , chứ chẳng phải tu để giải trừ thanh trượt. tốt , xấu cho dù có xuất được hồn lên phi tưởng phi phi tưởng xứ chẳng diệt được tham sân si thì chúng sanh vẫn hoàn chúng sanh. Đạo phật không có pháp nào dậy chư phật tử xuất hồn cả, toàn những lời ma mị nghiêng về mong cầu pháp thuật đi ngược lại pháp phật. Chẳng chịu định tâm sanh trí huệ vượt qua khỏi bể khổ thì cho dù có 10 phương chư phật kế bên cũng phiền nào vô minh , luân hồi như thường chứ xuất hồn gi? giải thanh và trượt gi? . 8 vạn 4 ngàn pháp môn phật để lại cho tu đấy , minh đấy , sư đây còn minh sư ở đâu nữa nói tào lao nhảm nhí . Mây bài kiều này nên xóa không cần suy nghĩ.


Nhưng bậc long tượng phật pháp như HT Thích Thanh Từ, Thiên Sư Nhất Hạnh, Đạt Lai Lạt Ma, HT Tuyên Hóa, Hư Vân Lão Hòa Thượng có vị nào dùng lời ma mị kiểu như cái được gọi là ông lương sĩ hằng này giảng không. Xuất đi đâu ? ở lại cái xác mà lo định tâm chưa chết mà lo xuất rồi à ? Xuất xuống âm phủ coi khi bỏ xác diêm vương cho ở tầng địa ngục nào ha? Nhảm Nhí

Tớ chỉ tin vào Pháp - Định - Tuệ hay Giới - Định - Tuệ mà chư phật để lại thôi còn cái bọn lâu la cô hồn này chuyên đi tung tin lừa đảo dẫn dắt người đi vào chỗ mê lầm. Chỗ nào cũng thấy. đã thiền đi vào cảnh giới bát nhã thì còn gì là hồn mới vía nữa . Thích luân hồi lắm à mà hồn mới vía

thay đổi nội dung bởi: Boi!!!, 31-10-2012 lúc 10:11 PM.
  #10  
Old 01-11-2012, 10:59 PM
MNJ's Avatar
MNJ MNJ is offline
Thành viên
Thành Viên Mới
 

Tên Thật: THIÊN HƯƠNG
Tham gia ngày: Sep 2012
Bài gởi: 28
Thanks: 16
Thanked 3 Times in 3 Posts
Say 'Thank You!' for this post. = 0 For This Post / 0 tổng số
Đạo hữu Boi nói cũng đúng nhưng theo tôi thấy không cần thiết phải có thái độ mạnh quá như vậy. Chúng ta vào topic này với mục đích thảo luận. Để phản hồi lại bài thiền xuất hồn thì admin và một số đạo hữu khác cũng đã gửi bài rồi, và theo học trò nghĩ thì rất là hiệu quả. Như vậy là được rồi. Thêm nữa, để những bài như vậy ở đây thì các đạo hữu khác vô đọc càng có cơ hội để so sánh và đối chiếu, nhận rõ đúng sai. Cho nên học trò nghĩ những topic kiểu như vầy cũng có mặt tích cực của nó vậy.

Thân ái
Gởi Ðề Tài Mới  Ðề tài đã khoá  


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chủ đề giống nhau
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Lâm chung những điều cần biết. HYMALAPSON Chết Và Tái Sinh 7 30-04-2013 12:25 PM
Khi Chết Không Mang Theo ðược Gì HYMALAPSON Chết Và Tái Sinh 1 11-10-2010 05:11 PM
Sách Tịnh Độ Giảng Lược que huong LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG 0 16-03-2010 07:49 AM
Chết Trong An Bình HYMALAPSON Chết Và Tái Sinh 0 26-06-2009 02:18 PM
Giới Bản Khất Sĩ Tân Tu Nữ, HT. Nhất Hạnh HYMALAPSON Giới Luật 0 21-03-2009 08:42 AM


Múi giờ GMT. Hiện tại là 07:07 AM.
+ Độ Phân Giải Chuẩn Của Website Site là 1366X768
+ phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.
+Mọi hình thức sao chép & Để lại NGUỒN đều được hoan nghênh
+Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng- Quan Âm Tu Viện,K2/77, Đường NAQ.
Khu phố 3, Phường Bửu Hòa, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
Liên Hệ qua Mail tranquoctuanls@gmail.com
+ HOTLINE : 0977.374.742 (OR) 0988.18.38.11